1-dbqh-1769001378.jpg
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Trong dòng chảy lịch sử, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần đứng trước những thử thách khắc nghiệt: chiến tranh, thiên tai, nghèo đói, sự xâm nhập và đồng hóa từ bên ngoài. Nhưng có một điều luôn giúp chúng ta đứng vững: bản lĩnh văn hóa – thứ “thành lũy mềm” bền bỉ hơn mọi bức tường, sâu hơn mọi chiến lược. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh mệnh đề có sức lay động mạnh mẽ: “Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”, đồng thời khẳng định văn hóa là hồn cốt, là cội nguồn sức mạnh và sự tồn tại của một dân tộc.

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn ý nghĩa của thông điệp ấy – đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động – phóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Cuộc trò chuyện không chỉ là sự trở lại với một chân lý đã được lịch sử chứng minh, mà còn là lời nhắc: muốn đi xa, dân tộc phải đi sâu; muốn vươn cao, phải bám rễ.

2-dbqh-1769001401.jpg

PV: Thưa ông, câu nói “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” gợi cho ông những suy nghĩ gì? Văn hóa có thể “soi đường” cho chúng ta đi như thế nào trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến động và thách thức?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Câu nói “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” gợi cho tôi một hình ảnh rất cụ thể: văn hóa không phải là ngọn đèn treo trên cao để chiêm ngưỡng, mà là ánh sáng đi cùng bước chân của một dân tộc. Trong xã hội hiện đại, khi tốc độ phát triển kinh tế – công nghệ tạo ra cả cơ hội lẫn rủi ro, khi thang giá trị có lúc bị đảo lộn, văn hóa càng đóng vai trò như một “hệ điều hành” của đời sống xã hội. Nó định vị điều gì là đúng – sai, là nhân văn – vô cảm, là tiến bộ – lệch chuẩn; giúp chúng ta trả lời câu hỏi căn bản: ta phát triển vì điều gì, và phát triển để trở thành ai.

Văn hóa “soi đường” theo nhiều cách. Trước hết là soi đường cho lựa chọn chính sách: mọi chiến lược nếu thiếu chiều sâu văn hóa sẽ dễ rơi vào ngắn hạn, chạy theo con số mà quên mục tiêu con người. Thứ hai là soi đường cho hành vi xã hội: mỗi cá nhân đứng trước vô vàn cám dỗ của lợi ích cá nhân và áp lực đời sống cần một “cái neo” để không trượt khỏi chuẩn mực. Thứ ba là soi đường cho khát vọng dân tộc: hội nhập sâu rộng đòi hỏi một hệ giá trị chung để cộng đồng gắn kết, để bản lĩnh quốc gia không bị hòa tan.

Một dân tộc mạnh không chỉ vì có nhiều tiền, mà vì biết đặt sự phát triển vào đúng hệ giá trị: lấy con người làm trung tâm, lấy đạo lý làm gốc, lấy bản sắc làm sức mạnh mềm, lấy đoàn kết làm nền tảng. Văn hóa không chỉ là ký ức, mà là bàn tay vô hình kiến tạo tương lai.

PV: Khi nhìn lại tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông, chúng ta luôn phải đối mặt với các thế lực ngoại bang xâm lược và kẻ thù luôn tìm cách nô dịch, đồng hóa, nhưng dân tộc Việt Nam vẫn luôn có ý thức giữ gìn bản sắc, phải không thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Đúng vậy. Lịch sử Việt Nam cho thấy một điều rất đặc biệt: dân tộc ta không chỉ thắng bằng gươm giáo, mà còn thắng bằng ý chí văn hóa. Kẻ thù có thể chiếm đất, chiếm thành, áp đặt chế độ cai trị, nhưng nếu không thể đồng hóa được tâm hồn, không thể bẻ gãy được cội nguồn văn hóa, thì cuối cùng vẫn không thể “chiếm” được Việt Nam. Chính ý thức giữ gìn bản sắc đã giúp chúng ta đứng vững qua những thử thách dài lâu.

Tinh thần ấy thể hiện ở khả năng tiếp biến rất linh hoạt: ta học cái hay của người, nhưng không để mình bị hòa tan. Ta tiếp nhận kỹ thuật, mô hình tổ chức, thành tựu văn minh, nhưng vẫn giữ nền tảng riêng của đạo lý, gia phong, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, lòng yêu nước, nghĩa đồng bào. Nhiều giai đoạn lịch sử, văn hóa chính là “thành lũy mềm” bảo vệ dân tộc – và thành lũy ấy không chỉ dựng ở triều đình, mà dựng từ mỗi gia đình, mỗi làng quê, mỗi câu ca dao, điệu hò, tiếng ru.

Ngày nay, thách thức đồng hóa không chỉ đến bằng vũ khí, mà có thể đến bằng sự xâm thực lặng lẽ của lối sống thực dụng, của tin giả, của bạo lực ngôn từ, của sự đứt gãy truyền thống. Vì thế, câu chuyện giữ gìn bản sắc càng trở nên thời sự. Giữ bản sắc hôm nay không phải là khép kín, mà là giữ vững “gốc rễ” trong khi mở rộng “cành lá”.

PV: Xin ông cho biết quan điểm về câu nói “Văn hóa còn thì đất nước còn, văn hóa mất thì đất nước mất”. Theo ông, yếu tố nào làm nên “sự còn” hay “sự mất” của văn hóa?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Với tôi, đây là một mệnh đề vừa giản dị vừa sâu sắc, vừa cảnh báo vừa chỉ đường. “Sự còn” hay “sự mất” của văn hóa không chỉ phụ thuộc số lượng di tích hay lễ hội, mà nằm ở hệ giá trị, con người và môi trường văn hóa.

Trước hết là hệ giá trị. Nếu một xã hội còn giữ được nền tảng nhân văn – lòng yêu nước, nghĩa đồng bào, tôn trọng sự thật, trọng đạo lý, thượng tôn pháp luật – thì văn hóa còn. Nếu hệ giá trị đảo lộn, cái xấu được tung hô, cái đúng bị chế giễu, cái tử tế bị coi là yếu đuối, thì đó là dấu hiệu văn hóa đang mất.

Thứ hai là con người. Văn hóa sống trong từng con người. Khi con người còn biết tự trọng, biết xấu hổ trước cái sai, biết ngẩng cao đầu trước tổ tiên và tương lai, văn hóa còn. Khi con người vô cảm, ích kỷ, sống bất chấp, văn hóa tổn thương.

Thứ ba là môi trường văn hóa: gia đình, nhà trường, cộng đồng, truyền thông và không gian số. Nếu các không gian ấy nuôi dưỡng điều tốt đẹp, văn hóa bền. Nếu bị “đầu độc” bởi bạo lực, dối trá, thực dụng, văn hóa sẽ suy yếu.

Văn hóa mất không phải là mất ngay lập tức, mà mất dần bằng sự thờ ơ. Vì vậy, giữ văn hóa chính là giữ sự tỉnh thức của xã hội trước những cái “mất” tưởng như nhỏ, nhưng tích tụ thành khủng hoảng lớn.

PV: Theo ông, “văn hóa” ở đây bao hàm những yếu tố nào để tạo nên bản sắc của một dân tộc? Khi nào ta có thể nói văn hóa của một dân tộc đang “mất” đi?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nhìn văn hóa như một chỉnh thể gồm ba lớp. Lớp lõi là hệ giá trị: lòng yêu nước, ý thức cộng đồng, nhân nghĩa, hiếu học, trọng danh dự, tôn trọng pháp luật. Lớp thứ hai là biểu đạt truyền thống: tiếng nói, chữ viết, văn học nghệ thuật, phong tục, tín ngưỡng, tri thức dân gian, di sản. Lớp thứ ba là môi trường và chuẩn mực: ứng xử xã hội, văn hóa công vụ, văn hóa trong không gian số, năng lực sáng tạo.

Ta có thể nói văn hóa đang “mất” khi cả ba lớp có dấu hiệu suy thoái: hệ giá trị đảo lộn; truyền thống đứt gãy; môi trường xã hội độc hại. Khi cái xấu được bình thường hóa, cái tốt bị chế giễu; khi người trẻ không hiểu lịch sử, không tự hào bản sắc; khi tin giả lấn át sự thật, bạo lực lấn át sự tử tế… đó là những dấu hiệu rất đáng lo.

Văn hóa mất không mất bằng tiếng động lớn, mà mất dần trong sự thờ ơ. Vì thế, giữ văn hóa trước hết là giữ sự tỉnh thức của xã hội.

3-dbqh-1769001426.jpg

PV: Để “văn hóa còn”, theo ông, mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và Nhà nước cần những hành động cụ thể gì?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Văn hóa không tự tồn tại; văn hóa sống bằng sự gìn giữ và thực hành hàng ngày. Với mỗi cá nhân, điều quan trọng nhất là sống có văn hóa: tôn trọng sự thật, giữ lòng tự trọng, ứng xử tử tế, chấp hành pháp luật, biết xấu hổ trước cái sai và tự hào trước điều đúng. Mỗi người là một “tế bào văn hóa”.

Với gia đình, cần giữ nền nếp và truyền dạy giá trị. Gia đình phải là “trường học nhân cách”: dạy con về hiếu nghĩa, kỷ luật, lòng yêu nước, trách nhiệm.

Với cộng đồng, cần tạo môi trường văn hóa lành mạnh: tôn vinh người tử tế, phê phán cái lệch, khuyến khích đọc sách, học tập suốt đời, nuôi dưỡng sinh hoạt văn hóa truyền thống.

Với Nhà nước, phải hoàn thiện thể chế và đầu tư nguồn lực: bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thiết chế hiện đại, nâng cao đời sống văn hóa cơ sở, chú trọng giáo dục văn hóa trong trường học, phát triển văn hóa số. Quan trọng nhất là tạo cơ chế để văn hóa trở thành động lực phát triển, không chỉ là khẩu hiệu.

PV: Cá nhân ông cảm nhận thế nào về ý nghĩa của câu nói “Văn hóa còn thì đất nước còn, văn hóa mất thì đất nước mất” trong cuộc sống hiện tại và định hướng cho tương lai?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cảm nhận câu nói này như một lời nhắc vừa gần gũi vừa nghiêm khắc. Gần gũi vì nó nói bằng ngôn ngữ giản dị: văn hóa còn thì đất nước còn. Nghiêm khắc vì nó đặt ra trách nhiệm: không ai đứng ngoài sự nghiệp gìn giữ văn hóa.

Trong cuộc sống hiện tại, câu nói giúp tôi nhìn mọi vấn đề không chỉ ở bề mặt mà ở chiều sâu văn hóa. Một vấn đề xã hội không chỉ là chuyện pháp lý, mà là câu chuyện chuẩn mực ứng xử. Một chính sách kinh tế không chỉ là con số tăng trưởng, mà còn là công bằng, niềm tin, giá trị con người. Một phong trào phát triển không chỉ là tốc độ đầu tư, mà còn là bản sắc không gian sống, văn hóa cộng đồng.

Định hướng cho tương lai, câu nói càng quan trọng. Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới, với mục tiêu lớn, khát vọng lớn. Nhưng muốn “đi xa” phải “đi sâu”; muốn “vươn cao” phải “bám rễ”. Công nghệ thay đổi thế giới, nhưng chỉ văn hóa giữ được con người. Kinh tế có thể đưa đất nước đến giàu mạnh, nhưng chỉ văn hóa đưa dân tộc đến tầm vóc.

Vì thế, với tôi, đây là kim chỉ nam hành động: làm gì cũng phải hỏi “điều đó có làm xã hội tốt đẹp hơn không, con người tử tế hơn không, dân tộc mạnh mẽ hơn không”. Nếu có, đó là con đường đúng.